Véctơ tách dòng


Véctơ tách dòng (vector cloning) là một phân tử DNA có kích thước nhỏ cho phép cài gắn một đoạn DNA ngoại lai vào nhằm mục đích nhân đoạn DNA ngoại lai lên với số lượng lớn.
Các đặc điểm cần có của một véctơ tách dòng:
Có khả cài gắn các đoạn DNA ngoại lai
Có kích thước nhỏ để xâm nhập tế bào chủ
Có thể tái bản độc lập không phụ thuộc vào bộ gen của tế bào chủ.
Có chứa các gen chỉ thị, chọn lọc (gen kháng kháng sinh, gen chỉ thị màu...)
Các loại vectơ tách dòng thường dùng: Plasmid, Cosmid, Phage, BAC (Bacterium artificial chromosomes), YAC (yeast artificial chromosomes).

Tính xác thực của ứng dụng tế bào gốc từ dây rốn

Tính xác thực của ứng dụng tế bào gốc từ dây rốn
Ngày 20 tháng 2 năm 2010, phát biểu tại hội nghị thường niên Hiệp hội vì sự tiến bộ của khoa học Mỹ (AAAS), Irving Weissman, Giám đốc Viện Y học phục hồi và tế bào gốc sinh học, thuộc trường Đại học Stanford ở California, Mỹ cho biết dây rốn chứa các tế bào gốc có thể duy trì khả năng tạo máu ở mức độ chỉ cho trẻ nhỏ. Tuy nhiên, "khả năng chữa bệnh chưa hề được chứng minh" của các tế bào gốc lại đang rất thịnh hành ở nhiều nước có quy định lỏng lẻo trong ngành y. Ông Weissman cho rằng các bệnh viện tư đang "kiếm tiền" từ những người tin vào khả năng kỳ kiệu của tế bào gốc lấy từ dây rốn

Tế bào gốc

Tế bào gốc (tiếng Anh: Stem cells) là tế bào mầm hay tế bào nền móng mà từ đó các loại tế bào của cơ thể con người được tạo ra.

Lịch sử
Từ những năm 1950, các nhà khoa học nước ngoài đã phát hiện ra các kháng nguyên trên màng tế bào và kháng thể cơ thể.
Năm 1994, Ariff Bongso, Nhà khoa học người Sri Lanka, là người đầu tiên trên thế giới tách thành công tế bào gốc từ phôi người. Sau đó, rất nhiều Nhà khoa học nổi tiếng khác tiếp tục nghiên cứu và đã có nhiều thành tựu quan trọng trong việc sử dụng TBG nhằm điều trị, chăm sóc sức khỏe con người. Cần nói thêm trong lịch sử nghiên cứu TBG, việc tách TBG từ gốc phôi hoặc nhũ nhi (thai) có thời gian từng bị lên án dữ dội từ dư luận xã hội và tín ngưỡng tôn giáo phương Tây, về việc vi phạm vấn đề y đức. TBG trưởng thành cũng ít được quan tâm bởi khả năng cho tế bào ít, già và khó biệt hóa...
Đến năm 2004, tại trường ĐH Quốc gia Singapore, P. Giáo sư - Tiến sĩ - Bác sĩ Phan Toàn Thắng là người đầu tiên trên thế giới tách được tế bào gốc từ màng cuống dây rốn, một phát minh đã tạo nên sự quan tâm đặc biệt của giới khoa học thế giới. Đây là tiền đề quan trọng để có thể chữa lành các vết thương do bỏng, loét do phóng xạ và đặc biệt là ứng dụng trong lĩnh vực chăm sóc sắc đẹp.

Noãn của sinh vật nguyên sinh và thực vật


Ở sinh vật nguyên sinh, nấm và nhiều loài thực vật, chẳng hạn như rêu, dương xỉ, và thực vật hạt trần, noãn được sản xuất bên trong noãn cơ. Vì noãn cơ là một cấu trúc đơn bội, các tế bào noãn được sản xuất thông qua phân bào. Các noãn cơ của rêu điển hình bao gồm một cái cổ dài với một đế rộng hơn chứa các tế bào trứng. Khi trưởng thành, cổ mở ra để cho phép các giao tử đực bơi vào các noãn cơ và thụ tinh cho trứng. Các hợp tử được tạo thành sau đó phát triển thành phôi, và sẽ phát triển ra khỏi các noãn cơ thành một thể bào tử non.
Ở thực vật có hoa, thể giao tử cái, thường sinh ra trong các noãn cơ, đã được giảm xuống chỉ còn tám tế bào được gọi là túi phôi bên trong noãn. Các tế bào giao tử gần nhất với lổ noãn phá vỡ túi phôi để phát triển thành các tế bào trứng. Sau khi thụ phấn, ống phấn (vòi nhụy) dẫn giao tử đực vào túi phôi và một giao tử đực sẽ kết hợp với một giao tử cái. Kết quả hợp tử phát triển thành một phôi bên trong noãn. Noãn lần lượt phát triển thành một hạt giống và trong nhiều trường hợp noãn cây phát triển thành trái để tạo thuận lợi cho sự phát tán của các hạt giống. Sau khi nảy mầm, phôi phát triển thành cây non.

Noãn

Noãn hay tế bào trứng là các tế bào sinh sản của con cái/giống cái đơn bội hoặc là giao tử cái. Cả động vật và thực vật có phôi đều có noãn.

Sản sinh noãn
Ở động vật bậc cao, noãn được sinh ra từ buồng trứng và tất cả chúng đều tồn tại từ lúc sinh ở động vật có vú và phát triển qua quá trình sinh trứng
Ở các động vật sinh con (gồm con người và tất cả các loài thú có nhau khác), noãn được thụ tinh bên trong cơ thể con cái và sau đó phôi thai phát triển bên trong tử cung, tiếp nhận chất dinh dưỡng trực tiếp từ cơ thể mẹ.
Noãn người và thú
Noãn người phát triển từ các tế bào hợp tử gốc được bao bọc trong buồng trứng. Mỗi tế bào phân chia thành nhiều lần để tạo ra nhiều tế bào nhỏ hơn được gọi là noãn nguyên bào. Các noãn nguyên bào sau đó phát triển thông qua quá trình giảm phân để tạo thành noãn, tế bào trứng nguyên thủy, và thể cực.
Noãn là một trong những tế bào lớn nhất trong cơ thể người, đặc biệt có thể nhìn thấy bằng mắt thường mà không cần trợ giúp của kính hiển vi hay các thiết bị phóng đại khác. Noãn người có đường kính khoảng 0,12 mm

Gen


Gen, gien, ren hay di tố là một đoạn DNA mang một chức năng nhất định trong quá trình truyền thông tin di truyền. Trên nhiễm sắc thể, một gen thường có một vị trí xác định và liên kết với các vùng điều hòa phiên mã và các vùng chức năng khác để bảo đảm và điều khiển hoạt động của gen.
Thông thường, người ta nói đến gen hàm ý là gen cấu trúc. Gen cấu trúc là đoạn DNA mang thông tin cần thiết mã hóa một chuỗi polypeptide. Trong đó, các polypeptide là thành phần cấu trúc tạo nên các protein. Đây là nhóm phân tử đóng vai trò quan trọng (nhưng không phải là hoàn toàn) quy định kiểu hình của sinh vật.
Khi một gen cấu trúc được kích hoạt, vùng mã hóa này sẽ tiến hành phiên mã (tạo thành dạng mRNA chứa thông tin của gen). RNA này sau đó sẽ hướng dẫn cho quá trình tổng hợp protein thông qua mã di truyền. Ngoài ra, các gen loại khác có thể mã hoá cho những RNA không tổng hợp protein, ví dụ tRNA vận chuyển các amino acid, rRNA là thành phần của ribosome hoặc các RNA điều khiển như miRNA, siRNA .v.v
Ở các loài sinh vật nhân chuẩn (eukaryote), các gen cấu trúc còn chứa vùng không mã hóa (gọi là intron) nằm xen kẽ với các vùng mã hóa (gọi là exon). Sau khi phiên mã, những vùng intron này sẽ được loại bỏ trong một quá trình chế biến RNA thông tin (mRNA) gọi là splicing. Trong một số trường hợp, không phải mọi exon đều có thể được giữa lại trên trình tự mRNA trưởng thành (mature RNA). Nhờ vậy, một gen có thể tạo ra nhiều sản phẩm thông qua sự sắp xếp khác nhau các đoạn exon. Quá trình này gọi là alternative splicing.

Sinh sản vô tính người


Sinh sản vô tính người
Hiện nay chưa có nơi nào thành công trong việc sinh sản vô tính người. Nhưng về mặt lý thuyết, khả năng này hoàn toàn có thể xảy ra nhất là sau khi bản đồ gen người được công bố năm 2000.
Pháp luật
Việc thành công trong sinh sản vô tính đã dấy lên tranh cãi các vấn đề về đạo đức. Pháp luật nhiều nước cấm sinh sản vô tính người. Người ta cho rằng, việc sinh sản vô tính ở người có thể đặt xã hội trước những thảm hoạ khôn l­ường, nhiều người coi sinh sản vô tính người là tội ác chống lại loài người. Tuy vậy, việc sinh sản vô tính người dù không công khai nhưng người ta nghi ngờ rằng nó vẫn được ngấm ngầm thực hiện . Một số nước khác cho phép sử dụng công nghệ sinh sản vô tính để chữa các bệnh hiểm nghèo ở người (không phải là sinh sản vô tính người).

Dòng hóa phân tử DNA


Dòng hóa phân tử DNA là kỹ thuật tạo bản sao của một chuỗi thứ tự của một DNA, thường là để phát huy và nghiên cứu về một gen đặc biệt nào đó hoặc một khúc phần nhỏ của DNA. Kỹ thuật này được dùng trong thí nghiệm nghiên cứu về chứng tích di truyền hay trong kỹ nghệ thực phẩm chế tạo protein.
Dòng hóa phân tử DNA thường có 4 bước
làm vụn DNA thánh nhiều phần nhỏ
ghép những phần nhỏ này lại theo chuỗi thứ tự mới
cấy những chuỗi DNA này vào tế bào
lựa ra những tế bào có khả năng giữ và phát huy những thông tin trong những chuỗi DNA mới.